>>
Site Map
>>
Forums
>>
Âm nhạc - giọng ca
Forum module - topics in forum:
Âm nhạc - giọng ca - những bài hát mới, ca sĩ mói, giai điệu nhạc của bạn
links Tổng hợp các Music Video VN và thế giới
Nghệ Thuật Cải Lương, Cổ Nhạc, Vọng Cổ + Sưu tầm những tu
Tài liệu sưu tầm + Những Tuồng Cải Lương MP3 Hay Nhất Xa Xưa Link download ở cuối bài nhá
[stream:90940ebb7e]http://www.vnhoathinhdon.net/giangtuyen/ftpfiles/5matkieng/caophi/cthd4[/stream:90940ebb7e]
Hàn sưu tập được tài liệu này trên mạng và dựa theo hiểu biết Hàn chắc là hạn hẹp về loại Theater đặc sản của miền Nam nhất là ở miền Tây Nam bộ. Những bài MP3 trong Post N°3 là những tuồng cải lương xa xưa (có khi chỉ là trích đoạn) đã từng vang bóng một thời, các bác lớn tuổi khi nghe lại chắc không khỏi ngậm ngùi với kỷ niệm dĩ vãng...
Nghệ Thuật Cải Lương
Lịch Sử :
Hai tiếng "cải lương" có nghĩa là "sửa đổi cho tốt hơn". Từ xưa ở Việt Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hát Chèo hay hát Tuồng (ở Bắc Phần) và hát bội (ở Trung và Nam Phần). Ðến 1917, khi cải lương ra đời, người mình nhận thấy điệu hát này có thể tân tiến hơn điệu hát bội, nên cho đó là một việc cải thiện điệu hát xưa cho tốt hơn. Vì lẽ ấy người mình dùng hai tiếng "cải lương" để đặt tên cho điệu hát mới mẻ này. Trước kia ở rải rác trong các tỉnh Nam Phần (Nam bộ) có những ban tài tử đờn ca trong các cuộc lễ tư gia, tân hôn, thăng quan, giỗ,... Nhưng không bao giờ có đờn ca trên sân khấu hay trước công chúng. Qua năm 1910, ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, tục gọi Tư Triều gồm bản thân Tư Triều (chơi đờn kìm), Chín Quán (đờn độc huyền), Mười Lý (thổi tiêu), Bảy Vô (đờn cò),Cô Hai Nhiễu (đờn tranh) và Cô Ba Ðắc (ca). Ban tài tử này đờn ca rất hay vì phần đông đã được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp mới về. Năm 1911, Nguyễn Tống Triều muốn đưa ca nhạc ra trước công chúng, nên thương lượng với chủ nhà hàng "Minh Tân khách sạn" ở ngang ga xe lửa Mỹ Tho – Sài Gòn để ban tài tử đờn ca giúp vui cho thực khách. Người đến nghe ngày càng đông. Nhận thấy sáng kiến này có kết quả khả quan, Thầy Hộ, chủ rạp hát bóng Casino, phía sau chợ Mỹ Tho, muốn cho rạp hát mình đông khán giả bèn mới ban tài tử đến trình diễn mỗi tối thứ bảy và thứ tư trên sân khấu và đã được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Sân khấu thời bấy giờ cũng được dàn dựng rất đơn giản. Cái màn bạc dùng làm bối cảnh (fond), kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván có để một cái bàn chưn cheo. Hai bên sân khấu có để cây kiểng. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem thật nghiêm trang. Sáng kiến đưa đờn ca tài tử lên sân khấu của Tư Triều từ năm 1912 tại Mỹ Tho đã lan tràn đến Sài Gòn và nhiều tỉnh ở Nam Phần. Năm 1913 – 1914, chủ nhà hàng ở sau chợ Mới, Sài Gòn, là "Cửu long giang" nghe danh tiếng ban tài tử nên đã xuống tận nơi để mời về. Ông Năm Tú là người có công nhất trong việc gây dựng lối hát Cải lương buổi ban đầu. Ông mướn thợ vẽ tranh cảnh phỏng theo lối trang trí rạp hát Tây Sài Gòn. Ông mua sắm y phục cho đào kép khá chu đáo và nhờ nhà văn Trương Duy Toản soạn tuồng. Ông cất một cái rạp hát rộng lớn và đẹp đẽ gần chợ Mỹ Tho để cho ban ca kịch của ông trình diễn. Ðiệu hát cải lương chính thức hình thành từ đó và ngày càng phát triển mạnh, nhiều Ban được thành lập. Có thể nói, sân khấu cải lương là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh xã hội Việt Nam, chính xác hơn là xã hội Nam bộ lúc bấy giờ. Chính vì vậy nó trưởng thành rất mau. Vài ba năm đầu thập kỷ 20, nó còn đang chập chững những bước đầu tiên. Năm 1931 nó đã chính thức được giới thiệu ở ngoài nước với danh nghĩa một loại hình nghệ thuật hiện đại ngang hàng tuồng chèo đã có nhiều thế kỷ lịch sử. Nó ra đời thu hút được đông đảo khán giả và hát bội chịu phần thua kém. Từ Nam Kỳ nó Bắc tiến và tuồng, chèo dần dần nhường bước. Trong hơn nửa thế kỷ, sân khấu cải lương vượt xa các loại hình sân khấu khác về thế mạnh, có thời kỳ nó giữ địa vị độc tôn, thu hút khán giả nhiều hơn các loại sân khấu khác, chỉ kém có điện ảnh. Tìm về nơi đầu nguồn của sân khấu cải lương, người ta gặp những sự kiện xã hội, lịch sử sau đây: Nam Bộ, xứ Nam kỳ cũ, vốn có một phong trào ca nhạc tài tử. Nó là sự phát triển của phong trào đàn cây. Trong các cuộc tế lễ, ma chay, người ta mời ban nhạc tới diễn tấu, không dùng các loại trống, kèn và các loại nhạc cụ gõ khác và chơi một số bản của nhạc lễ có viết thêm lời ca và một số bản của nhã nhạc từ miền Trung đi vào. Phong trào này dần dần phát triển sâu rộng khắp toàn dân. Nhạc cụ được bổ sung, cải tiến. Người ta thêm vào các bài ca nhạc dân gian hoặc sáng tác thêm những bài hát mới. Các địa phương có những ban ca nhạc tài tử nổi tiếng với các danh cầm như: Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Bảy Triều... và các danh ca như Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc... tiếng tăm đồn đại khắp nơi. Phong trào ca nhạc tài tử lôi cuốn mọi giới đồng bào nhất là công chức, thợ thủ công, nông dân, công nhân. Khởi đầu, nhạc và lời ca được biểu hiện qua hình thức Ca-ra-bộ (một trình thức diễn xuất thô sơ) với một số nghệ nhân không chuyên, được phục vụ trong những buổi tiệc tùng, giải trí, trà dư tửu hậu ở thôn xóm và bài ca được hâm mộ nhất thời bấy giờ là "Bùi Kiệm thi rớt trở về". Ca-ra-bộ được đông đảo quần chúng hâm mộ, dần dần phát triển và con đường phát triển tất yếu của nó là đi vào nghệ thuật sân khấu, biến hát bội thành "hát bội pha cải lương" rồi tiến lên chuyển mình thành một loại hình riêng để diễn các loại tuồng tàu, tuồng kiếm hiệp vào đầu và cuối thập kỷ 40. Ngày càng được quần chúng hâm mộ thưởng thức, nó tiến xa hơn trên đường nghệ thuật, với nhiều nghệ sĩ có tên tuổi tham gia và đến đầu thập kỷ 40, nó đã mang đầy đủ tính chất khá hoàn chỉnh. Và đặc biệt với Nghệ sĩ Nhân Dân Năm Châu, nó trưởng thành thành một loại sân khấu có tính nghệ thuật khá cao. Năm Châu vốn có học Tây, hâm mộ sân khấu Tây phương, nhất là kịch cổ điển Pháp, đã tâm huyết đưa số hiểu biết phong phú, đa dạng của mình vào cải lương, tạo thành một sân khấu riêng biệt - trường phái Năm Châu" với lực lượng nghệ sĩ lừng danh lúc bấy giờ là Phùng Há, Ba Vân, Tư út, Tư Anh và quí giá nhất là soạn giả Trần Hữu Trang, tác giả nhiều kịch bản nổi tiếng, trong đó có Ðời cô Lựu và Tô ánh Nguyệt cho đến nay, vẫn còn ghi sâu trong ký ức bao người. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp cho du nhập vào nước ta những phim ảnh, sách báo và những đĩa hát, về sau có nhiều đoàn kịch hát Trung Quốc sang biểu diễn tại Sài Gòn.Do đó, nghệ thuật cải lương có cơ hội thu hút thêm tinh hoa sân khấu của nước ngoài như cách diễn xuất, sử dụng một số bài bản nước ngoài phù hợp với cách diễn tấu của dàn nhạc cải lương, học tập cách sử dụng bộ gõ bổ sung thêm kèn mới vào dàn nhạc cải lương. Trong giai đoạn này, âm nhạc cải lương chịu ảnh hưởng của phương pháp diễn tấu mang tính sân khấu xuất phát từ nội dung chủ đề của kịch bản. Trong giai đoạn đầu của cải lương, đề tài khai thác của kịch chủ yếu dựa vào thơ ca được lưu truyền rộng rãi trong dân gian Việt Nam như: Kim Vân kiều, Lục Vân Tiên, Trưng Trắc Trưng Nhị v v... hoặc phóng tác theo các vở tuồng hát bội như: Phụng Nghi Ðình, Xử án Bàng Quí Phi, Mộc Quế Anh v v... Âm nhạc được dùng trong các vở này bao gồm gần hết là các bài bản cải lương, trong dàn nhạc cải lương có các nhạc cụ của dàn nhạc tài tử, có nhạc cụ gõ và kèn hát bội. Từ năm 1930 trở đi khuynh hướng cải lương xã hội thực thụ ra đời dưới sự chỉ đạo của nhóm Năm Châu, Tư Trang, Năm Nở, Bảy Nhiêu, Tư Chơi v v... lúc đầu phỏng theo truyện phim và kịch của Pháp như: Bằng hữu binh nhung, Sắc giết người, Giá trị và danh dự v v... Về sau nhóm này dựa vào đề tài Việt Nam như: Tội của ai, Khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường v v... Các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng). Lúc bấy giờ trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu. Trong những thời gian sau cải lương bị ảnh hưởng của một số khuynh hướng Quảng đông và kiếm hiệp nhưng những khuynh hướng này ít được người ủng hộ, nhất là ở các vùng nông thôn. Các vở có tính chất tâm lý xã hội đều dựa vào sự tích Việt Nam như Tô ánh Nguyệt, Ðời cô Lựu... nhưng về âm nhạc thì lại chịu ảnh hưởng ở âm nhạc Tây Âu. Cải lương càng ngày càng hiện đại hóa và đó là công đầu của Năm Châu vì không có con người này, khó có một sự chuyển mình đầy tính cổ điển và nghệ thuật của cải lương. Do đó, có thể nói Năm Châu phải được đánh giá là vị "Tổ cải lương hiện đại", một vị tổ có thật... Từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một loại hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút hàng đêm cả vạn triệu khán thính giả say mê đến với nó tại các nhà hát hay bên chiếc radio. Do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một ký giả kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát Huy chương vàng và Bằng danh dự cho những nam nữ nghệ sỹ trẻ tuổi có triển vọng nhất trong năm. Giải Thanh Tâm hiện thời được gọi là giải Trần Hữu Trang là giải thưởng có tiếng vang lớn trong giới nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật cải lương. Nghiên cứu toàn bộ lịch sử cải lương qua những nét đại thể, ta thấy rõ ràng loại hình nghệ thuật này mang một đặc điểm rất nổi bật. Ðó là nền nghệ thuật mang tính giải phóng của người nông dân bị áp bức và mất nước, phải vùng lên để chiến đấu cho sự sống còn của tầng lớp mình, dân tộc mình. Tiếng nói của họ là tiếng ca bất khuất và đã được thể hiện qua nhiều tác phẩm mà Ðời cô Lựu là một vở tiêu biểu. Tác giả của nó, Trần Hữu Trang vốn là một nông dân, một nghệ sĩ trí-thức
Đặc Điểm :
Đặc Điểm :
Năm 1920 đoàn hát mang tên Tân Thinh ra mắt khán giả, Tân Thinh không dùng tên gánh mà dùng tên đoàn hát và ghi rõ đoàn hát cải lương, dưới bảng hiệu có treo đôi liễn như sau:
- Cải cách hát ca theo tiến bộ
- Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.
Ðôi liễn ấy đã nêu lên những đặc điểm cơ bản của sân khấu cải lương. Như trên đã nói, cải lương vốn là một động từ mang nghĩa thông thường trở thành một danh từ riêng. Cải lương có nghĩa là thay đổi tốt hơn khi so sánh với hát bội. Sân khấu cải lương là một loại hình sân khấu khác hẳn với hát bội cả về nội dung vở soạn lẫn nghệ thuật trình diễn.
1- Bố cục
Các soạn giả đầu tiên của sân khấu cải lương vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Nhưng các soạn giả của thuộc lớp kế tục thì nghiêng hẳn về cách bố cục theo kịch nói: vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Vai trò của soạn giả, đạo diễn không lộ liễu trước khán giả mà ẩn sau lưng nhân vật. Ban đầu, các vở viết về các tích xưa (mà người ta quen gọi là tuồng Tàu) có khi còn giữ ít nhiều kiểu bố cục phảng phất hát bội, nhưng các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội) thì hoàn toàn theo bố cục của kịch nói. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương (kể cả các vở về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói).
2- Ðề tài và cốt truyện
Các vở cải lương ngay từ đầu đều khai thác các truyện Nôm của ta như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên hoặc các câu truyện trong khung cảnh xã hội Việt Nam. Sau đó chiều theo thị hiếu của khán giả sân khấu cải lương cũng có một số vở soạn theo các truyện, tích của Trung Quốc đã được đưa lên sân khấu hát Bội và được khán giả rất ưa thích. Sau này nhiều soạn giả, kể cả soạn giả xuất thân từ tân học cũng soạn vở dựa theo truyện xưa của Trung Quốc hoặc dựng lên những cốt truyện với nhân vật, địa danh có vẻ của Trung Quốc nhưng những cảnh ngộ, tình tiết thì của xã hội Việt Nam
3- Ca nhạc
Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch vì ở đây ca kịch giữ vai trò chủ yếu. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc cho phù hợp với các tình huống sắc thái tình cảm. Như vậy, nói chung về ca nhạc, sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang sau này mang tên Vọng cổ là một dân ca nổi tiếng của sân khấu cải lương). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Quốc nhưng đã được phổ biến từ lâu trong nhân dân Việt Nam, đã Việt Nam hóa.
4-Diễn xuất
Diễn viên cải lương diễn xuất một cách tự nhiên, nhất là khi diễn về đề tài xã hội thì diễn viên diễn xuất như kịch nói. Khác với kịch nói ở chỗ đáng lẽ nói, diễn viên ca, cho nên cử chỉ điệu bộ cũng uyển chuyển, mềm mại theo lời ca. Dù không giống như cử chỉ điệu bộ của diễn viên kịch nói, mà vẫn gần với hiện thực chứ không cường điệu như hát bội. Cải lương cũng có múa và diễn võ nhưng nhìn chung là những động tác trong sinh hoạt để hài hoà với lời ca chứ không phải là hình thức bắt buộc.
5-Y phục
Trong các vở về đề tài xã hội diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời. Trong các vở diễn về đề tài lịch sử dân tộc, về các truyện cũ của Trung Quốc, phóng tác từ những câu chuyện, hay các vở kịch từ nước ngoài thì y phục của diễn viên cũng được chọn lựa để gợi ra xuất xứ của cốt truyện và của nhân vật, nhưng cũng chỉ mới có tính là ước lệ thôi chứ chưa đúng với hiện thực.
Âm nhạc :
Chúng ta đều biết không có một nền âm nhạc nào không mang tính kế thừa và phát triển, hai mặt này đi song song với nhau, cùng nằm trong hiện tượng văn hoá-nghệ thuật qua nhiều thế hệ, bắt gốc từ yếu tố tộc người trong thời kỳ sơ khai. Nó đã ăn sâu và tác động vào điều kiện tâm-sinh lý của con người, và mang tính di truyền. Nó là một hiện tượng mang tính qui luật tạo thành mầm mống cho ngôn ngữ âm nhạc dân tộc. Âm nhạc cải lương cũng không tách khỏi qui luật này. Người ta thường nói cải lương xuất phát từ Nam Bộ, đó là cách nói rút gọn, nhưng đứng về mặt lịch sử thì nhạc cải lương là một loại nhạc sân khấu, được phát triển dựa trên phong trào ca nhạc tài tử (phong trào chơi nhạc không chuyên nghiệp lan rộng khắp Nam bộ thời trước). Loại nhạc này bắt nguồn từ nền ca nhạc dân gian lâu đời của nước ta. Nó nằm trong kho tàng văn hóa dân tộc, và đồng thời phát triển với những cuộc di dân về phương Nam của ông cha ta. Cũng những cây đàn ấy, càng đi khỏi vùng đất Tổ thì càng trở nên linh động với những màu sắc mới lạ và biến thành một loại hình nghệ thuật độc đáo dân tộc. Có thể nói đó là đức tính của con người Việt Nam được hun đúc qua những cuộc di dân lớn, đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, vượt qua muôn nghìn khó khăn gian khổ để xây dựng thôn ấp, phát triển xã hội. Âm nhạc cải lương chịu ảnh hưởng của hai nền nhạc lớn đã có từ thời cổ và tồn tại đến bây giờ, đó là nền ca hát dân gian và nền nhạc khí dân gian. Hai nền nhạc này tạo cho cải lương một phong cách đặc biệt, do đó trong âm nhạc cải lương, yếu tố ca hát và yếu tố nhạc khí cùng thúc đẩy nhau phát triển và tạo ra một hình thức đối lập trong nhiều bè, mở đường cho sự nảy nở của tính chất sân khấu. Tại Nam Bộ, hiện nay nhân dân chỉ còn được nghe khí nhạc thuộc loại tế tự (nhạc lễ) còn âm hưởng của nhạc cung đình thì đã thuộc về dĩ vãng. Từ khi chữ Nôm bắt đầu xuất hiện thì thơ ca dân gian càng phát triển, chữ Nôm dùng để sáng tác các bản nhạc. Sau thắng lợi vẻ vang của ba lần chống quân xâm lược Nguyên, nghệ thuật âm nhạc và hát xướng càng phát triển mạnh và mãi cho tới thời nhà Lê, ngoài các bậc công hầu ra, trong hàng sĩ phu phần đông đều có hiểu biết về niêm luật âm nhạc. ở Huế đã hình thành nền nhã nhạc, yếu tố bác học làm cơ sở cho sự kế thừa và phát triển của phong trào ca nhạc tài tử Nam bộ. Nghệ thuật âm nhạc miền Trung dần dần phát triển ra khắp thôn xã song song với sự phát triển của một vài yếu tố âm nhạc dân gian Trung Quốc. Phương thức cải biến vật chất thành nhu cầu cần thiết cho con người, ảnh hưởng khá lớn đến phương thức biểu hiện tư tưởng bằng hiện tượng nghệ thuật. Tài khéo léo và óc sáng tạo của con người làm thay đổi rất nhiều các loại hình nghệ thuật phù hợp với thẩm mỹ quần chúng lúc bấy giờ. Nhạc cải lương được hình thành từ trong lòng người Việt Nam cần cù và gian khổ, lớn lên trong những thử thách đầy khó khăn nguy hiểm mà con người đấu tranh để sinh tồn. Nhạc miền Trung khi phát triển vào Nam bộ thì bị mất một phần đặc điểm, chủ yếu là bị lệ thuộc vào tiết tấu sinh hoạt và ngôn ngữ của người dân Nam bộ. Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, xã hội Nam Kỳ bị phân hóa nhanh chóng, sự đổ vỡ có mức độ của ý thức hệ phong kiến trong xã hội Nam Kỳ chủ yếu là do phương thức sản xuất mang yếu tố tư bản xuất hiện, tư tưởng và tình cảm con người đã thoát ly dần những tục tập cũ kỹ, lỗi thời. Sự thoái trào của nền nhạc lễ để nhường cho phong trào của ca nhạc tài tử phát triển từ trong lòng của nó là một sự kiện rất mới. Phong trào dân ca được quần chúng ưa thích dần dần phát triển trong toàn Nam bộ và trở thành phong trào ca tài tử. Số người biết đàn biết ca ngày càng đông, nhất là ở vùng nông thôn, với hình thức nghệ thuật đơn giản tao nhã như vậy, người nông dân nào cũng có thể học tập được. Trong khối quần chúng to lớn, sau này đã xuất hiện nhiều nhân tài của nghệ thuật âm nhạc và sân khấu cải lương. Nhạc tài tử dần dần phát triển về nội dung lẫn hình thức, tiếp thu thêm những luồng nhạc khác như dân ca địa phương, hò, lý, nói thơ...đồng thời có một sự cách tân trong toàn bộ nhạc lễ: trước kia nhạc lễ chỉ là loại khí nhạc, sau khi được cách tân thì trở thành những ca khúc tự sự với nội dung phản ánh tinh thần của thơ ca truyền thống như: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Kim Vân kiều, Lục Vân Tiên... Phong trào đó phát triển từ thành thị đến nông thôn thành nhu cầu thiết yếu của các tầng lớp, kể cả giới trí thức trong những cuộc liên hoan, hội hè, cưới hỏi và song song với sự phát triển đời sống vật chất, nhạc tài tử đem đến cho họ một tình cảm mới mẻ. Phong trào tạo thành những trung tâm như Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ, Bạc Liêu... Ngoài những cố gắng sáng tạo thêm hình loại khúc thức mới, các nhà âm nhạc còn khái quát hóa toàn bộ hệ thống điệu thức trong nhạc truyền thố;ng và phân chia thành các loại hơi chủ yếu như: hơi Bắc, hơi Nam, hơi Oán, v.v..
Hơi Bắc khái quát các điệu thức mang tính chất trong sáng, vui khỏe.
Hơi Nam khái quát các điệu thức mang tính chất trang nghiêm và đồng thời được phân chia thành một số hơi cụ thể như sau: hơi Xuân, hơi Ai, hơi Ðảo.
Hơi Oán là hơi được sáng tạo sau này, hoàn toàn thoát ly những hình thức cấu tạo theo kiểu nhạc lễ, đó là hơi thở của cuộc sống thời bấy giờ.
Sự phân chia thành các loại hơi, xuất phát từ các mẫu giai điệu hoặc điệu thức giai điệu có tác dụng lập thành các mô hình âm thanh, và xếp loại các âm hình cơ bản (motif) được sử dụng trong quá trình nhạc khúc. Trong thực tế đời sống hằng ngày của nhân dân ta, chúng được cấu trúc trên nguyên tắc tập hợp và mang những ý nghĩa cụ thể đã trở thành một tập quán trong sự sáng tạo âm nhạc qua nhiều thời đại. Ðể minh hoạ, dưới đây sẽ giới thiệu một lớp Văn Thiên Tường nhan đề là Bá Lý Hề:
Vì tình kia thân sanh sao đắng cay
Thay thương thay đương khi gian truân
Bâng khuâng lúc chia tay
Thiếp yểm lụy ngỏ cùng chàng
Vì cảnh nhà hàn vi
Nên mới chia ly
Khi đưa nhau nắm tay dặn dò
Ðến lúc đắc lộ chàng có nghĩ
Ðến chút tình tào khang
Tay dâng chén này hôm nay
Khuyên lương nhân
Vững lòng rủi dong lần bước sang
Cách núi ải
Non cao vực thẳm ráng dò
Em lo đương khí
Qua đèo ải ngăn ghềnh đá chập chồng
Sớm thơ nhạn tả mấy hàng
Cho nhãn những điều
Ðiều ấm lạnh dường bao
Trên đây là lời ca diễn tả tâm trạng vợ Bá Lý Hề tiễn chồng lên đường lập công danh. Hình thức cấu trúc của loại này, khác với cấu trúc chân phương của nhạc lễ, chịu ảnh hưởng hình thức thơ liên hoàn, mỗi đoạn gồm tám câu. Về mặt nghệ thuật, nhạc tài tử trong giai đoạn này đã đóng góp nhiều yếu tố mới trong đời sống âm nhạc của quần chúng, được bà con nông dân ưa mến và bảo vệ đã tiến đến một thời kỳ rực rỡ hơn bao giờ hết, mở đầu cho sự xuất hiện một loại hình nghệ thuật mới, đó là nghệ thuật sân khấu cải lương. Từ một hình thức ca hát thính phòng của phong trào nhạc tài tử, một bộ phận tách ra mang tính chất diễn xướng (nói lối, ngâm thơ, ca hát) tức là hình thức ca ra bộ (vừa ca vừa ra bộ). Như vậy, đứng về mặt nghiên cứu của âm nhạc, chúng ta thấy có hai phong cách, trong phương pháp diễn tấu nhạc cụ và ca hát, đó là phong cách tài tử và phong cách cải lương.
[Phong cách tài tử]: mang tính chất thính phòng, không đông người, được tổ chức ở trong nhà, công viên, trên thuyền lúc đêm trăng đi sâu vào chiều sâu của tình cảm, người đàn và hát chủ yếu là để phục vụ người nghe.
[Phong cách cải lương]: thể hiện tính sân khấu, vì trung tâm của nghệ thuật diễn xuất là diễn xuất, các bộ môn nghệ thuật khác như âm nhạc, giúp nó đạt đến một hiệu quả nhất định, hợp thành toàn bộ một hình thức nghệ thuật sân khấu.
Vấn đề ca hát hoặc diễn tấu nhạc cụ trong cải lương cũng phải mang tính chất hành động- không như biểu diễn theo phong cách tài tử vì đặc trưng của sân khấu cải lương là ca hát. Ca hát tài tử và ca hát sân khấu là hai lĩnh vực khác nhau và trong mỗi lĩnh vực đều có những nghệ sĩ tiêu biểu. Chẳng hạn, trong ca hát sân khấu cải lương, có những ngôi sao như Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu... và những ca sĩ tài tử nổi tiếng như cô Tư Sang, cô Ba Bến Tre, cô Tư Bé, Năm Nghĩa...Những tác giả âm nhạc tài tử như ông Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), ông Bảy Triều, những tác giả nhạc sân khấu như các ông Mộng Vân, Bảy Nhiêu, Tư Chơi, Sáu Hải v v... đã đóng góp nhiều sáng tác mới phù hợp với đà phát triển của nghệ thuật cải lương, trong đó có bài vọng cổ cho đến bây giờ đã trở thành một chủ đề lớn về âm nhạc, mà nhiều nghệ sĩ nhờ đấy phát huy một sức sáng tạo và xây dựng nên sự nghiệp nghệ thuật cho bản thân mình. Nếu như những hạt giống đó không nảy mầm từ trong lòng dân tộc và nuôi dưỡng của nhân dân qua nhiều thế hệ, thì nghệ thuật cải lương không thể tồn tại cho đến ngày hôm nay. Âm nhạc cải lương hơi nhẹ nhàng vì dùng đờn dây tơ và dây kim, không có kèn trống như hát bội. Có sáu thứ đờn thường dùng trong điệu cải lương như sau:
1. Ðờn kìm: đờn Kìm cũng gọi là "Nguyệt cầm" có hai dây tơ và tám phím. Tiếng kìm tuy không trong và thanh như tiếng Tranh hay Lục huyền cầm, nhưng cũng có âm hưởng nhiều nên khi hòa với cây Tranh nghe rất hay. Tùy hơi cao thấp của diễn viên, đờn Kìm có thể đờn năm dây Hò khác nhau.
2. Ðờn Tranh: đờn Tranh hay đờn Thập Lục có 16 dây. Tiếng đờn Tranh được thanh tao nhờ dùng dây kim và nhấn tiếng có ngân nhiều. Cũng như cây kìm, đờn Tranh có thể đổi bực dây Hò tùy theo hơi cao thấp của người ca.
3. Ðờn Cò: Cây Cò, cũng gọi là đờn Nhị, có hai dây tơ, không có phím và dùng cây cung để kéo ra tiếng. Ðờn Cò là cây đờn đắc dụng nhất của âm nhạc Việt Nam. Nó chẳng khác nào cây Violon trong âm nhạc Âu Mỹ. Luôn luôn có mặt torng hát Bội, Cải lương, nhạc Tài tử,...
4. Ðờn Sến: Cây Sến có hai dây tơ và có đủ bậc như cây Banjo, nên đờn ít nhấn và có nhiều chữ lợ nghe ngộ. Có khi đờn ba dây nghe hơi như đờn Tỳ.
5. Guitare: Cây Guitare cũng gọi Lục huyền cầm hay Tây ban cầm, có sáu dây kim, nhưng thường đờn có năm dây. Tiếng thanh như đờn Tranh, khi đờn bực cao.
6. Violon: Cây Violon, cũng có tên là Vĩ Cầm, có bốn dây tơ và cung kéo như đờn Cò. đờnnày dùng phụ họa với cây Guitare hay cây Tranh để đờn Vọng cổ nghe hay, nhưng ít dùng đờn các bản khác vì tiếng nó kêu lớn làm lấn áp mấy cây đờn kia.
7.Cây Sáo: Cây hay ống Sáo, hoặc ống Tiêu, cũng có dùng trong điệu Cải lương, nhưng nó có một bậc Hò, không thay đổi. Thành thử người ta phải theo bậc Hò bất di bất dịch ấy.
8. Cây Cuỗn: Cây Cuỗn giống như cây Kèn, nhưng không có cái Loa.
Âm Điệu :
Bài ca Cải lương đặt theo bản đờn, nên kịch sỹ phải tùy âm nhạc, không được tự do phô diễn hết tài năng của mình như trong điệu hát Bội. Ca dư hơi thì trễ đờn, còn thiếu hơi dứt trước đờn. Kịch sỹ bị bó buộc trong khuôn khổ nhịp đờn, dầu có hơi hám nhiều cũng không thể vượt ra ngoài nhịp vì sợ ca lỗi nhịp.Lúc sau này, trong điệu Cải lương có bản Vọng cổ thêm nhiều nhịp. Bài ca vọng cổ đặt không ăn sát câu đờn, miễn vô đầu và dứt câu đờn, ca cho trúng hơi, trúng nhịp. Nhờ vậy, có nhiều kịch sỹ được tự do phô bày hết khả năng của mình. Một khuyết điểm thứ hai là đương nói chuyện kế bắt qua ca. Trừ một ít danh ca biết cách "mở hơi" cho câu ca của mình có hứng thú, còn phần đông vô ca nghe khô khan lã chã lắm, không có mùi vị chút nào. Lỗi ấy một phần do ban âm nhạc thờ ơ, không thuộc chỗ nào sắp ca đặng rao đờn trước hầu gợi ý cho khán giả có cảm giác vui buồn trước khi nghe ca, như bên âm nhạc hát Bội. Cải lương được chỗ ưu điểm là nhờ âm nhạc biết tùy hơi cao thấp của kịch sĩ để lên dây Hò, nên kịch sỹ ca đúng hơi "thiên phú" của mình không rán hơi quá như bên hát Bội.
Thế nào là một giọng ca cải lương hay ?
Cải lương có những làn điệu bài bản cố định, từ đó nhạc sỹ thiết kế để phù hợp với tâm trạng từng nhân vật. Trong ngần ấy mẫu gốc, làn điệu cơ bản, hát thế nào cho hay, cho đẹp, có hơi ấm tình cảm và bản sắc riêng hoàn toàn phụ thuộc vào tài nghệ điều khiển, thao túng nhịp điệu của từng diễn viên hát cải lương. Yếu tố hàng đầu cho một giọng ca cải lương hay chính là sức mạnh truyền cảm. Một giọng ca hời hợt, chỉ thấy lời mà không thấy lòng người, không phải là giọng ca hay. Ngay cả một giọng ca điêu luyện về kỹ thuật mà không có linh cảm, có cái "hồn" thì cũng chỉ là một giọng ca chết, không sinh khí. Một giọng ca hay là giọng ca lột tả đến cùng tình cảm của câu hát, của tâm trạng nhân vật bằng tất cả rung động của trái tim người hát và bằng cả quá trình khổ luyện, tìm ra được cách biểu hiện tốt nhất. Khi nội dung bài hát đã thấm vào lòng diễn viên, đã biến thành máu thịt, thì các kỹ thuật gieo câu, nhả chữ, ngừng lặng, luyến láy, đều là kết quả sự xúc động tình cảm sâu sắc của người hát. Một người rất ít nghe cải lương, thậm chí chưa nghe bao giờ, cũng có thể xúc động khi nghe một giọng ca truyền đạt chính xác sắc độ tình cảm của lời bài hát, của nhân vật như: yêu thương, nhớ nhung, buồn bã hoặc căm uất, giận hờn... Tùy cách chế ngự điều khiển của từng diễn viên với bài bản cải lương, sẽ quyết định từng màu sắc riêng biệt của mỗi giọng ca. Mỗi người sẽ tạo ra một chất giọng riêng, không lẫn vào đâu được. Và người ta dễ dàng nhận ra một Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Mỹ Châu... hay Út Trà ôn, Minh Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh... trên sân khấu miền Nam. Một giọng ca hay trên sân khấu chỉ có thể được coi là hoàn hảo nếu không tách rời nghệ thuật sân khấu biểu diễn. Vì vậy, tiêu chuẩn thứ hai của giọng ca hay là biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn. Nếu diễn viên chỉ chú ý đến lời hát mà không quan tâm đến nhân vật thì khán giả chỉ có thể nhớ đến con người thật của anh ta chứ hoàn toàn không gắn với một hình tượng nhân vật nào cả. Ðiều đó giống như là nghe hát những bài vọng cổ hơn là một vai diễn ca hay. Ngược lại, nếu diễn viên diễn xuất thật hay mà ca dở thì mọi người lại không nghĩ mình đang xem cải lương! Cần thiết phải có sự kết hợp hài hòa, nếu không xem như thất bại. Trong cải lương, giọng ca là vô cùng quan trọng nhưng không phải là tất cả. Vì thế, có được một giọng ca "trời phú" thì cần phải rèn luyện, trau dồi để ngày càng tiến bộ hơn với những vai diễn thật sự có "hồn".
Vọng Cổ Hoài Lang
Người yêu, yêu đến si tình, nhưng người ghét thì ghét cay, ghét đắng. Chỉ nghe tên đã muốn đào đất đổ đi, có khi vì sự ghen ghét ấy mà sân khấu cải lương cũng bị vạ lây. Có lẽ vì thế mà sau khi ra đời bài Vọng cổ đã phải bao lần thay tên, đổi họ "hóa thân", mới sống được tới ngày hôm nay. Dạ cổ hoài lang (Vọng cổ hoài lang) ra đời được hơn nửa thế kỷ. Nó đã làm cho nền móng cho nhiều bài vọng cổ không ngừng phát triển. Ðó là một hiện tượng có liên quan đế cuộc đời tác giả - nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Xuất thân từ một gia đình bần nông thuộc tỉnh Long An (trước là Tân An), lúc lên sáu tuổi, nhạc sĩ đã phải cam chịu cảnh bị áp bức bóc lột như muôn ngàn gia đình nông dân nghèo khổ khác. Tuy còn nhỏ nhưng cậu bé Cao Văn Lầu đã chứng kiến nhiều sự ngang trái trong cuộc sống tha phương cầu thực, rày đây mai đó, hết làm nghề này lại chuyển sang nghề khác và trong con tim nhỏ bé đã chớm nở dần những xúc cảm về cuộc đời. Từ khi gia đình định cư ở một vùng đất biển Bạc Liêu thì tính nghệ sĩ của chàng trai ngày càng được thể hiện rõ rệt. Ðược sự dạy bảo cẩn thận về âm nhạc của lão nghệ sĩ Hai Khị, Cao Văn Lầu bắt đầu cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp âm nhạc. Nhạc sĩ rất thành thạo về môn nhạc lễ và nhạc tài tử khi nhạc sĩ đang độ 20 tuổi và cũng đồng thời với phong trào "ca ra bộ" bắt đầu phát triển ra khắp lục tỉnh Nam Kỳ lúc bấy giờ. Bản Vọng cổ trước hết có tên là Dạ cổ được nhạc sỹ Cao Văn Lầu sáng chế hồi năm 1920 (sau ba năm khi cải lương ra đời). Sanh 1890, ông Sáu Lầu được 30 tuổi khi ông chế bản Vọng cổ. Lúc ấy ông cưới vợ được 10 năm, nhưng không có con. Cha mẹ ông buộc phải cưới vợ khác vì sợ tuyệt tự. Ông buồn rầu không còn muốn làm ăn gì nữa. Ban ngày ra ngoài đồng, ông nghiền ngẫm những lời vợ ông nói trước khi chia tay. Ông biết đờn cổ nhạc nên trong tâm trạng người chồng đau khổ trước cảnh gia đình tan rã, ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20 câu gọi "Dạ cổ hoài lang" (Ðêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng), có ý để kỷ niệm mối tâm tình của vợ ông với ông. Không biết có phải ông trời vì thấu hiểu và cảm thông cho đôi vợ chồng mà ít lâu sau, vợ ông thụ thai... Về sau, bản nhạc ấy được đổi tên là "Vọng cổ hoài lang" cho rộng nghĩa thêm (Trông mối tình xưa mà nhớ đến chồng).
Biên bản nguyên thủy của "Dạ cổ hoài lang" của ông Sáu Lầu như sau:
Từ là từ phu tướng,
Bửu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Ðêm năm canh mơ màng.
Em luống trông tin nhàn,
Ôi, gan vàng quặn đau.
Ðường dầu xa ong bướm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Còn đêm luống trông tin bạn,
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.
Vọng phu vọng, luống trông tin chàng,
Lòng xin chớ phụ phàng.
Chàng hỡi chàng có hay,
Ðêm thiếp nằm luống những sầu tây.
Biết bao thuở đó đây xum vầy,
Duyên sắt cầm đừng lạt phai.
Thiếp cũng nguyện cho chàng,
Nguyện cho chàng hai chữ bình an.
Mau trở lại gia đàng,
Cho én nhạn hiệp đôi.
Bài Dạ Cổ Hoài Lang không những khái quát được tâm tư tình cảm của một lớp người ở thời đại đó, mà còn nêu lên tính độc đáo của một loại hình mới về nghệ thuật âm nhạc được phát triển dựa trên những đường nét cổ truyền. Ðiều này đã nói lên bản lĩnh của tác giả do được rèn luyện và tích lũy vốn nghệ thuật dân gian lâu đời một cách vững chắc. Nó hoàn toàn thoát ly những đường nét định hình của nền nhạc truyền thống, không chạm trổ hoa mỹ, không dài dòng văn tự như một số bài bản trong nền cổ nhạc. Về cấu tạo âm hưởng đó là sự phối hợp một cách khéo léo những điệu thức khác nhau làm cho tác phẩm được tăng cường sức hấp dẫn và sự thể hiện phong phú về mặt hình tượng nghệ thuật, khiến cho người nghèo cảm như thấy có cuộc đời của mình ở trong đó. Trong cái buồn man mác có chất chứa nỗi oán hờn tủi nhục. Bài Dạ Cổ Hoài Lang không phải là bài ca tâm sự của một con người cụ thể. Nó đã hòa đồng nỗi lòng của một con người trong nỗi lòng của hàng triệu con người khác đang phải sống một cuộc đời cơ cực. Dạ cổ hoài lang là một bản vọng cổ có hình thức cấu trúc âm nhạc hoàn chỉnh cho một làn điệu bài bản, làm nền tảng cho vốn ca nhạc cải lương. Dạ cổ hoài lang đã sống với sân khấu cải lương gần 80 năm và vẫn được nhiều người hâm mộ.
Vì sao cải lương được nhiều người đón nhận ?
Hát Bội là lối diễn xuất cho một lớp người biết thưởng thức xem, còn Cải lương là lối diễn cho mọi thành phần xem. Từ giới thượng lưu đến những người bình dân đều có thể là khán giả của cải lương. Nghệ thuật cải lương rất dễ hiểu. Lời văn giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày. Nội dung các vở cải lương thường đi sát với quần chúng. Khi xem tuồng xã hội, khán giả có cảm tưởng hoàn cảnh của các vai tuồng có thể xảy đến cho mình và do đó sự cảm xúc càng thêm mạnh và in sâu vào trí não. Ngoài ra, cải lương có đủ các thú tiêu khiển "cầm ca thi họa" để cho khán giả thưởng thức. Trước hết có âm nhạc cổ điển, nhạc Âu và ca ngân nhiều bản tân và cổ. Kế đó có những lời văn và câu thơ soạn theo lối dễ hiểu... Cải lương còn cho xem những tranh cảnh hội họa và gợi khiếu thẩm mỹ về kiến trúc và xây dựng vở kịch, từ hình thức đến nội dung. Sau hết là cách sử dụng ánh sáng trên nhiều màu sắc tươi đẹp của y trang và tranh cảnh.
THƯỞNG THỨC CỔ NHẠC NAM PHẦN VÀ VỌNG CỔ
Cải lương đối với đông đảo người mình, nhứt là người miên Nam, như là cái gì thuộc về “hơi thở và cuộc sống”. Có thể nói: không có một người miền Nam nào không biết ca vọng cổ, hoặc nhái/nhại theo giọng của một cô đào, anh kép mùi nào đó mà mình ham mộ, như là cách để tự khẳng định mình là “dân Nam kỳ” thứ thiệt!
Cải lương là gì?
Ðất Nam kỳ sớm rơi vào tay Pháp thì người Sài Gòn Gia Ðịnh cũng sớm biết tiếp nhận văn minh Tây Âu, kết hợp hài hòa với văn hóa Việt Nam biến thành cái riêng cho mình. Trong đó, đặc biệt nghệ thuật “Cải lương” dễ cho chúng ta nhìn thấy. “Cải lương” nhìn ở góc độ nghệ thuật, không phải Chèo ở miền Bắc, cũng không như hát Bội của Ðào Tấn ở miền Trung, của Lê Văn Duyệt ở Gia Ðinh và cũng không phải là kịch của Tây. Cải lương là một kết hợp tuyệt vời ba nền nghệ thuật sân khấu Việt-Tàu-Tây, mang dấu ấn của người Nam kỳ lục tỉnh.
Rồi không biết ai đó đặt cho loại hình sân khấu “mới” nầy cái tên là “Cải Lương”. Hai tiếng “cải lương” có nghĩa là “sửa đổi cho tốt hơn”. Cải lương “điệu hát” Chèo, hát Bội cho mới hơn; cải lương cái “sân khấu” chèo-hát bội cho tân tiến hơn, có phông màn; kết hợp với cách phân vai phân cảnh theo lối Tây, sao cho hạp với cách thưởng ngoạn người Việt... Cải lương là vậy đó.
Cải lương ra đời như vậy rõ ràng là bộ môn nghệ thuật cao cấp và “trí thức”. Những bài ca cải lương có chất - giọng - hơi luyến láy, mượt mà, và đặc biệt mỗi khi xuống xề bài vọng cổ ngọt ngào quá... khiến cải lương có sức thâu hút người nghe mãnh liệt, ai nghe/coi cũng mê mệt.
Người ta dùng hai tiếng “mùi mẫn” để nói lên/mô tả tiếng đờn “hòa quyện” tiếng ca, nghe xốn xang trong lòng, làm chạnh nhớ đến kỷ niệm mênh mang nào đó trong đời! Cho nên ai nghe/coi cũng ưa cũng thích. Cải lương tuy là nghệ thuật “trí thức” nhưng nội dung, lời ca mang tánh đại chúng và rất ư là đời thường, “rất người”, nên coi cải lương người ta thấy như/có mình trong đó. Khán giả cải lương khóc sụt sùi là vậy.
Cải lương đi vào quảng đại quần chúng đến đổi nhiều người hiểu sai hai chữ “cải lương” là bình dân, là nghệ thuật dành cho lớp người lao động!
“Rạp hát cải lương đầu tiên ở Việt Nam là của thầy Năm Tú, còn có tên gọi là Pièrre Tú, người xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, Mỹ Tho nay là tỉnh Tiền Giang. Vốn sanh ra ở vùng đất có truyền thống âm nhạc, nên thầy Năm Tú rất say mê nghệ thuật. Khoảng năm 1917, ông xuất tiền mua lại gánh “Xiết và Ca ra bộ An Nam Trẻ” của André Thuận (do ông nầy bị thua lỗ) và thành lập gánh hát thầy Năm Tú.
Ông đã tuyển thêm đào kép mới, thuê họa sĩ vẽ tranh phong cảnh để làm phông (Fond), phỏng theo lối trang trí của các rạp hát Tây ở Sài Gòn và mua sắm y phục đẹp cho đào kép. Ðồng thời, ông còn mời Trương Duy Toản - một nhà nho yêu nước, từng hoạt động trong phong trào Duy Tân - để soạn tuồng.
Thầy Năm Tú xây dựng một rạp hát vào đầu năm 1918 ở gần chợ Mỹ Tho (Chợ Cũ) để hát cho bà con coi chơi. Ðây là rạp hát cải lương đầu tiên ở nước mình. Rạp thầy Năm Tú hiện nay vẫn còn, mang tên là rạp Tiền Giang, tọa lạc trên đường Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Trước kia các gánh hát thường hát ở đình, miếu hoặc che dựng tạm thời, hát xong dẹp bỏ. Nay rạp của thầy Năm Tú có sân khấu rộng và cao, có hệ thống ròng rọc để thay đổi phông màn, hai bên sân khấu có treo nhiều lớp cánh gà, có hệ thống ánh sáng theo sự điều khiển của thầy tuồng (đạo diễn). Rạp có hai từng, ghế chia theo thứ hạng, đặc biệt trên lầu cạnh hai bên sân khấu được chia thành từng “lô” dành cho khách quan trọng (VIP).
Mỗi tối trước khi khai diễn, ông bài ra tiết mục “tableau vivant”, giới thiệu đào kép, giúp khán giả nhìn mặt toàn thể diễn viên của gánh sẽ diễn trong đêm.
Có rạp hát cố định, khang trang và hiện đại; lại có tiền và điệu nghệ, trình độ quản lý chặt chẽ nên thâu hút được nhiều đào kép giỏi như Tám Củi, Sáu Nhiêu, Tám Danh, Phùng Há, Năm Châu... Tuồng tích soạn đặc sắc nên gánh hát của ông là một trong những gánh cải lương nổi tiếng nhất lúc bấy giờ.” (Trích: Nhân Vật Miền Nam, Một Thời Vang Bóng của Nam Sơn Trần Văn Chi)
Nhiều người nghĩ sai rằng cải lương chỉ có bài ca vọng cổ.
Bài vọng cổ gốc tên là bài “Dạ Cổ Hoài Lang”- Ðêm nghe tiếng trống nhớ tình lang - của cố nghệ sĩ Cao Văn Lầu, là bài ca nòng cốt trong 20 bài tổ của đờn ca tài tử và ca nhạc cải lương.
Bài ca vọng: luyến láy, lên xuống như gió thoảng mây trôi, mượt mà khiến mà người ta quên đi những bài bản vắn khác. Thật ra Cổ nhạc cải lương, như Ca nhạc tài tử mang đủ bốn điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán; và bốn hơi: Xuân, Ai, Ðào, Ngự; chia ra 3 Nam, 6 Bắc; 4 Oán, 7 Bài Ngự...
Vẫn với bản nhạc đó, người ta chỉ thay lời ca làm sao cho phù hợp với tình huống: quan, hôn, tang, tế, biệt ly, thất tình, hay hân hoan... có trong tuồng tích cải lương.
Cải lương xuất thân từ đờn ca tài tử của những con người lưu lạc tứ xứ. Gọi là “tài tử” bởi vì chơi đờn ca tài tử không hạn định thời gian: có thể chơi lúc trưa hè, đêm mưa thanh vắng, giữa giờ giảo lao... không hạn định không gian: có thể chơi nơi lễ nghi, giữa chòi ngoài ruộng, bên góc phố... Gọi là tài tử vì là chơi “giúp vui” - không nhận tiền công. Chơi tài tử bởi vì tánh “điệu nghệ”, bình đẳng, hòa giữa người chơi/với người chơi, người chơi/với người nghe. Người đờn lắm khi phải “rước” người ca và nếu lỡ ca rớt nhịp, ca đâm hơi/ không ăn tiếng đờn... chẳng có ai cười chê bao giờ.
Cải lương hải ngoại khởi sắc
Cải lương từ khi ra đời đến những năm trước 1975, có lúc thịnh, có lúc suy. Thế nhưng nó đã sản sanh ra nhiều thế hệ nghệ sĩ mà tài năng của họ đã được khẳng định, mỗi người một vẻ, và họ được khán giả ái mộ. Lớp trước có thể kể như Năm Nghĩa, Bảy Cao, Thanh Tao, Út Trà Ôn, Tám Thưa, Thành Công, Ba Khuê, Sáu Thoàn, Thanh Cao, Văn Ngà, Hữu Phước, Thành Ðược, Út Nhị, Út Hậu, Út Hiền, hề Kim Quang, hề Châu Hí, Tám Vân, Sáu Nhỏ v.v... Các cô đào như cô Ba Kim Anh, Kim Chưởng, Thanh Loan, Thu Ba, Kim Giác, Ngọc Nuôi, Thúy Nga, Thanh Hương, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Bích Sơn,v.v. Nay có người mất, có người không còn hát nữa!
Sau năm 1975 cùng chung với nghiệt ngã của của dân tộc, nhiều người Việt bấm bụng bỏ nước ra đi, trong đó có nghệ sĩ cải lương. Phần đông nghệ sĩ cải lương nay tựu về quận Cam, California Huê Kỳ.
Khởi đầu “cải lương” ở Little Sài Gòn là hình thức điện thoại vào đài phát thanh để góp tiếng hát với Ban chủ trương như: nghệ sĩ Việt Hùng-Ngọc Nuôi, Dũng Thanh Lâm, Chí Tâm, Phượng Liên... cùng tiến đờn guitare bấy giờ của nghệ sĩ Tám Trí.
Những bài ca vọng cổ, bài bản vắn, được nhiều người ưa thích. Rồi bằng những trích đoạn cải lương, Hồ Quảng, tấu hài trong các tổ chức hội hè... làm cho cải lương sống dậy. Bởi nội dung đầy “đạo lý sống” của cải lương trở thành nhu cầu, là nỗi niềm khát khao và ước vọng của người Việt sống xa quê hương.
Mấy năm nay, các nghệ sĩ cải lương (cùng nhiều nghệ sĩ tân nhạc) từ trong nước ồ ạt qua quận Cam với những show hát ở các sòng bạc, các nhà hàng ăn uống, thì cải lương khởi sắc lại ở hải ngoại.
Cải lương diễn trong nhà hàng/restaurant giờ đây như đã định hình. Ðây là loại hình sân khấu mới, sân khấu hạng B, nhưng nhờ tổ chức được nhiều show một năm, gần gũi với khán giả và vừa túi tiền... nên thâu hút nhiều người mê cải lương. Bởi sân khấu lớn loại A như Thúy Nga, Asia, Vân Sơn... hoành tráng nhưng mỗi năm tổ chức trung bình 2 show, không có hoặc rất ít tiết mục cải lương quá. (khán giả sân khấu loại A chọn lọc, hạng có tiền, nhà giàu mới, như sân khấu cải lương Hà Nội đầu thế kỷ XX)
Ai có dự chương trình “Nhạc Hội Mừng Xuân” tổ chức hôm 9 Tháng Ba vừa qua, tại sân khấu nhỏ của nhà hàng Regent West Restaurant mới thấy người Việt mình ở hải ngoại còn mê cải lương lắm!
Nội dung chương trình “Nhạc Hội Mừng Xuân” đêm đó có thi ca vũ nhạc kịch, tân nhạc... giống như sân khấu Sài Gòn trước 1975; đặc biệt đêm diễn có phân nửa tiết mục là cổ nhạc cải lương. Ðây là dụng ý của nghệ sĩ MC Ðỗ Thanh, người thường xuyên tổ chức thành công loại hình cải lương trên sân khấu Restaurant ở quận Cam gần đây. Người MC nầy mấy năm gần đây về nghệ thuật “gắn bó” với Trung Tâm Thúy Nga nên được khán giả tin cậy (?)
Các nghệ sĩ cải lương hải ngoại có mặt trong đêm diễn như Tài Linh, Bình Trang, Yến Linh qua các bài ca vọng cổ; Thanh Kim Mỹ-Duy Tâm trong “Ngô Phù Sai”, loại tuồng hồ quảng đầy màu sắc; Hoài Trúc Linh, Bình Trang, Kim Xuân Lan trong trích đoạn “Lâm Sanh Xuân Nương” loại tuồng cổ Việt Nam... tất cả đều làm vừa lòng khán giả mộ điệu.
Cái đinh của đêm diễn là “hề Văn Hường”. Người nghệ sĩ hải cải lương nầy được khán giả “mê” lắm, không phải vì cái nghề chọc cười mà là vì kiểu ca vọng cổ của anh. Văn Hường ca vọng cổ vui tươi (thay vì mùi-buồn) và độc đáo nhờ anh có kiểu xuống xề “Hự hư hừ...” mà nay trở thành “thương hiệu Văn Hường”. Ðêm đó Văn Hường phải tựa tay vào cánh gà để hát hết bài “Tư Ếch đại náo Văn Hường”, nhưng giọng ca của anh vẫn đạt. Dứt câu, khán giả chạy ùa lên sân khấu “bủa xua” và tặng tiền cho anh...
Kết thúc đêm diễn bằng trích đoạn Hồ Quảng “Ðổng Trác-Ðiêu Thuyền” do các ngôi sao cải lương Ngọc Giàu, Phượng Liên, Bảo Quốc, cùng nghệ sĩ kịch Mai thế Hiệp. Khản giả không muốn ra về. Họ ngưỡng mộ nghệ sĩ, các ngôi sao nầy, hay vì ma lực của cải lương? Có thể vì cả hai.
Cải lương đúng như có ma lực, hấp dẫn và làm “say đắm” gần 500 con người trong đêm diễn. Cải lương quả khó lòng “phôi pha” trong tâm hồn, tình cảm của con người xa xứ.
Quả đúng như lời của soạn giả cải lương Lê Hoài Nở, trong hồi ký của nghệ sĩ Bảy Nam “Trôi theo dòng đời”: “Sân khấu cải lương như cái đạo, có cái gì đó rất thiêng liêng, cao đẹp, nói lên tiếng nói của tâm hồn, ước vọng đạo đức của con người. Nó không phải là một nghề như buôn bán, và nếu nhờ đi hát mà có cơm ăn áo mặc thì cũng chỉ là chuyện thứ yếu mà thôi”.
(Theo Nam Sơn Trần Văn Chi - NV)
Những Tuồng Cải Lương Hay Nhất Xa Xưa
Những Tuồng Cải Lương Hay Nhất Xa Xưa
sẽ Up dần dần những MP3 Cải Lương, hiện đã có gần 100 tuồng MP3
01. Bạch Viên Tôn Các : Thành Được, Mỹ Châu, Dũng Thanh Lâm, Phượng Liên, Văn Chung
02. Băng Tuyên Nữ Chúa : Minh Phụng, Mỹ Châu, Phước Lợi
03. Bông Hồng Cài Áo : Thanh Nga, Thành Được
04. Bông Hồng Sa Mạc : Minh Phụng, Mỹ Châu, Tấn Tài
05. Bọt Biển : Thành Được, Thanh Nga, Bảo Quốc, Ngọc Nuôi
06. Bụi Đời : Hùng Cường, Mỹ Châu, Dũng Thanh Lâm
07. Cho Trọn Cuộc Tình : Hùng Cường, Minh Phụng, Bạch Tuyết, Kim Ngọc, Hữu Phước, Văn Chung, Ngọc Giàu
08. Chuyện Tình Lan và Điệp : Tấn Tài, Thanh Kim Huệ
09. Cô Gái Đồ Long : Thành Được, Tấn Tài, Lệ Thủy, Kim Giác
10. Cuốn Theo Chiều Gió : Tấn Tài, Mỹ Châu, Dũng Thanh Lâm
11. Đoạn Tuyệt : Thành Được, Thanh Nga, Việt Hùng, Hoàng Mai
12. Đời Cô Lựu : Thành Được, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Diệp Lang
13. Gái Bán Bar : Hùng Cường, Thanh Nga, Tám Vân
14. Hai Nụ Cười Xuân : Hùng Cường, Tấn Tài, Phượng Liên, Ngọc Giàu, Mai Lan,Thanh Việt, Văn Chung
15. Hàn Mặc Tử : Hùng Cường
16. Hoa Mộc Lan : Minh Vương, Lệ Thủy, Nguyên Hạnh, Kim Ngọc
17. Khi Người Điên Biết Yêu : Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm
18. Kiếp Nào Biết Yêu Nhau : Minh Phụng, Mỹ Châu, Dũng Thanh Lâm, Lệ Thủy
19. Lá Sầu Riêng : Thanh Sang, Thành Được, Ngọc Giàu
20. Lấy Chồng Xứ Lạ : Minh Phụng, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm, Mỹ Châu, KIm Ngọc
21. Lệnh Của Bà : Hùng Cường, Bạch Tuyết, Út Hiền, Phượng Liên, Văn Chung
22. Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga
23. Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài
24. Má Hồng Phần Bạc (Kim Thúy Kiều) : Hùng Cường, Bạch Tuyết
25. Mãnh Áo Quê Nghèo : Tấn Tài, Lệ Thủy
26. Mạnh Lệ Quân : Minh Vương, Lệ Thủy, Dũng Thanh Lâm, Văn Chung
27. Mắt Em Là Bể Oan Cừu : Minh Phụng, Mỹ Châu, Thành Được
28. Mùa Thu Lá Bay : Minh Phụng, Bạch Tuyết
29. Mỹ Nhân và Loạn Tướng : Minh Phụng, Lệ Thủy, Mỹ Châu
30. Sáng Nắng Chiều Mưa : Hùng Cường, Bạch Tuyết, Thành Được
31. Người Đẹp Bạch Hoa Thơm : Minh Phụng, Mỹ Châu, Thành Được
32. Nữa Đời Hương Phấn : Thành Được, Thanh Nga, Bạch Tuyết, Phương Quang
33. Sân Khấu Về Khuya : Thành Được, Thanh Nga
34. Tâm Sự Loài Chim Biển : Minh Phụng, Mỹ Châu, Dũng Phương Lâm, Phượng Liên, Minh Vương, Thanh Thanh Hoa
35. Tây Thi
36. Thuyền Ra Cửa Biển : Thanh Sang, Mỹ Châu
37. Tiếng Hạt Trong Trăng : Thánh Được, Mỹ Châu
38. Tiếng Trống Mê Linh : Thanh Sang, Thanh Nga, Bảo Quốc
39. Tình Chú Thoàn : Hùng Cường, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết
40. Tình Cô Gái Huế (Số Đỏ) : Minh Phụng, Ngọc Giàu, Thanh Nga
đang thêm những tuồng sau đây :
Áo Cưới Trước Cõng Chùa : Thanh Tòng, Lệ Thủy
Bên Cầu Dệt Lụa : Thanh Nga, Thanh Sang
Bao Công Tra Áng Quách Hòe : Minh Vương, Mỹ Châu
Chiều Đông Gió Lạnh về : Tấn Tài, Mỹ Châu
Chung Vô Diệm : Phượng Liên, Tấn Tài
Con Gái Chị Hằng
Đời Cô Hạnh : Minh Vương, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn, Thanh Sang, Hồng Nga
Kỷ Niệm Đời Con Gái (sau 75)
Bach Vien Ton Cac.mp3
http://www.megaupload.com/?d=79B34I0A
Bang Tuyen Nu Chua.mp3
http://www.megaupload.com/?d=42LW2NZG
Bao Cong Tra An Quach Hoe.mp3
http://www.megaupload.com/?d=C0GCZUY6
Ben Cau Det Lua.mp3
DL: http://www.megaupload.com/?d=PVRYTXZV
Bong Hong Cai Ao.mp3
http://www.megaupload.com/?d=73AQKSKV
Bong Hong Sa Mac.mp3
ttp://www.megaupload.com/?d=FNT7UH9A
Bot Bien.mp3
http://www.megaupload.com/?d=SSN7OY10
Bui Doi.mp3
http://www.megaupload.com/?d=1HRN5YC8
Chiec Quat Tram Huong.mp3
http://www.megaupload.com/?d=MY15UOFP
Chieu Dong Gio Lanh Ve.mp3
http://www.megaupload.com/?d=I780IE9Y
File: Cho Tron Cuoc Tinh.mp3
http://www.megaupload.com/?d=WDM5NY72
Chuyen Tinh An Loc Son.mp3
http://www.megaupload.com/?d=00E4CAW2
Chuyen Tinh Lan Va Diep.mp3
http://www.megaupload.com/?d=YP6S46A0
Co Gai Do Long.mp3
http://www.megaupload.com/?d=JFUGK3KG
Cung Thuong Sau Nguyet Ha.mp3
http://www.megaupload.com/?d=SGQUORH1
Cuon Theo Chieu Gio.mp3
http://www.megaupload.com/?d=16F9YIT9
Da Xoa Hoang Hau.mp3
http://www.megaupload.com/?d=548ZD69Q
DacKyHoGa.wma
http://www.megaupload.com/?d=4AFFM1H0
Dem Lanh Chua Hoang.mp3
http://www.megaupload.com/?d=SHFNMFFO
Dem Tien Dua.mp3
http://www.megaupload.com/?d=VGVL6VT3
Doan Tuyet.mp3
http://www.megaupload.com/?d=TOTM6123
Doc Suong Mu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=JE08XRGM
Doi Anh Mua La Rung.mp3
http://www.megaupload.com/?d=TVNH44XS
Doi Co Luu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=DSV00C7C
Duong Guom Nguyen Ba.mp3
http://www.megaupload.com/?d=RK5E0XR0
Gai Ban Bar.mp3
http://www.megaupload.com/?d=C9MJYWM5
Gai Diem Vo Hien.mp3
http://www.megaupload.com/?d=E6WKT5D2
Hai Nu Cuoi Xuan.mp3
http://www.megaupload.com/?d=CN3ITKFA
Han Mac Tu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=1TKL1MEA
HangVoBietNguCo_ThanhBach_BachLe.wma
http://www.megaupload.com/?d=V29FI57C
Hen Mot Mua Xuan.mp3
http://www.megaupload.com/?d=C4FS2WKA
Hoa Moc Lan.mp3
http://www.megaupload.com/?d=Z7E8LF6J
Hoa Son Than Nu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=WMPUV22E
Khi Nguoi Dien Biet Yeu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=Z1FHGYQP
Khi Rung Moi Sang Thu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=2XCPEY6Y
Kiem Si Doi.mp3
http://www.megaupload.com/?d=PGH1VUAP
Kiep Nao Co Yeu Nhau.mp3
http://www.megaupload.com/?d=GATYS1O2
La Sau Rieng.mp3
http://www.megaupload.com/?d=5EZQHIUT
Lay Chong Xu La.mp3
http://www.megaupload.com/?d=210P5YKW
Lenh Cua Ba - Ach Giua Dang.mp3
http://www.megaupload.com/?d=SAFEU5XZ
Luc Van Tien - Kieu Nguyet Nga.mp3
http://www.megaupload.com/?d=DUVGDRUH
Luong Son Ba - Chuc Anh Dai.mp3
http://www.megaupload.com/?d=8920N6YD
Luu Minh Chau - Ngoc Thuy Chung.mp3
http://www.megaupload.com/?d=HHKOOBSH
Ma Hong Phan Bac.mp3
http://www.megaupload.com/?d=89JYKWTG
Mai Toc Ni Co.mp3
http://www.megaupload.com/?d=BKPR465V
Manh Ao Que Ngheo.mp3
http://www.megaupload.com/?d=36IXYAQ0
Manh Le Quan.mp3
http://www.megaupload.com/?d=QGA7A4UD
Mat Em La Be Oan Cuu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=5PBVM3ZA
Mau Nhuom San Chua.mp3
http://www.megaupload.com/?d=1Y19FNDS
Mot Kiep Doa Day.mp3
http://www.megaupload.com/?d=95IU0D28
Mua Thu La Bay.mp3
http://www.megaupload.com/?d=BRLD31QX
Mua Thu Tren Bach Ma Son.mp3
http://www.megaupload.com/?d=VZC3U7WL
Mua Xuan Ngu Trong Dem.mp3
http://www.megaupload.com/?d=3Q2WKHOV
My Nhan Va Loan Tuong.mp3
http://www.megaupload.com/?d=E0KQWX75
Nan Con Roi.mp3
http://www.megaupload.com/?d=VHZ2KMV5
Nang Som Mua Chieu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=YCJ5882V
Ngao So Oc Hen.mp3
http://www.megaupload.com/?d=QZABDDB7
Nguoi Dep Bach Hoa Thon.mp3
http://www.megaupload.com/?d=IFBLSIRO
Nguoi Phu Khieng Kieu Cuoi.mp3
http://www.megaupload.com/?d=2KJ8HQSZ
Nguoi Tinh Tren Chien Tran.mp3
http://www.megaupload.com/?d=2CCHS9X4
Nguoi Vo Khong Bao Gio Cuoi.mp3
http://www.megaupload.com/?d=ADW734AF
Nguoi Yeu Cua Nu Hoang.mp3
http://www.megaupload.com/?d=QBVAY5FF
Nhi Do Mai.mp3
http://www.megaupload.com/?d=96MUWBRI
Nu Chua Mot Dem.mp3
http://www.megaupload.com/?d=T0KW5U53
Nu Hoang Ve Dem.mp3
http://www.megaupload.com/?d=X5I1L8QB
Nua Doi Huong Phan.mp3
http://www.megaupload.com/?d=6UQT6FKH
Nuoc Bien Mua Nguon.mp3
http://www.megaupload.com/?d=LC2LWDQW
Nuoi Chuot Huyen De.mp3
http://www.megaupload.com/?d=IGGJO7GR
Quan Am Thi Kinh.mp3
http://www.megaupload.com/?d=B30GFA64
San Hau.mp3
http://www.megaupload.com/?d=I52MMDS4
San Khau Ve Khuya.mp3
http://www.megaupload.com/?d=B8P2JQWL
So Van Cuoi Vo.mp3
http://www.megaupload.com/?d=83F7XFTP
So Van Cuu Gia.mp3
http://www.megaupload.com/?d=OJ9U1OWU
Tam Su Loai Chim Bien.mp3
http://www.megaupload.com/?d=PTEFZWGJ
Tay Thi.mp3
http://www.megaupload.com/?d=5ONAL0JE
That Tinh Mai.mp3
http://www.megaupload.com/?d=M8QAJ6HB
Thu Cung Sa.mp3
http://www.megaupload.com/?d=VAQ7S2BH
Thuyen Ra Cua Bien.mp3
http://www.megaupload.com/?d=NL2KEKFM
Tieng Hac Trong Trang.mp3
http://www.megaupload.com/?d=GXNMDKNS
Tieng Trong Me Linh.mp3
http://www.megaupload.com/?d=MKN5H4DD
Tieng Trong Sang Canh.mp3
http://www.megaupload.com/?d=MI3XA5EV
Tinh Chu Thoang.mp3
http://www.megaupload.com/?d=LTPYJED5
Tinh Co Gai Hue.mp3
http://www.megaupload.com/?d=G0TTJYAW
Tinh Xuan Muon Tuoi.mp3
http://www.megaupload.com/?d=YVPUPXBF
To Anh Nguyet.mp3
http://www.megaupload.com/?d=TNK01G2T
Trung Doc Dac.mp3
http://www.megaupload.com/?d=BUIJ9POL
Truong Kich 20 Nam.mp3
http://www.megaupload.com/?d=6A0LEIF0
Truong Tuong Tu.mp3
http://www.megaupload.com/?d=KAD50TD3
Tuong Cuop Bach Hai Duong.mp3
http://www.megaupload.com/?d=Z60SEY0X
Tuyet Tinh Ca 2.mp3
http://www.megaupload.com/?d=8EG5TJW3
Tuyet Tinh Ca.mp3
http://www.megaupload.com/?d=2Z4J7GFI
Xin Mot Lan Yeu Nhau.mp3
http://www.megaupload.com/?d=8TNS1OWN
Áo Cưới Trước Cổng Chùa (1-->4)
http://www.megaupload.com/?d=7VD3PGYO
http://www.megaupload.com/?d=71QBFZCX
http://www.megaupload.com/?d=M3YBNE5N
http://www.megaupload.com/?d=QLZQQJVU
Bao Công Tra Án Quách Hòe
http://www.megaupload.com/?d=C0GCZUY6
Bên Cầu Dệt Lụa
http://www.megaupload.com/?d=PVRYTXZV
Chiều Đông Gió Lạnh Về
http://www.megaupload.com/?d=I780IE9Y
Chung Vô Diệm (1-->4)
Bạn UnZip khi đau xong nhá?
http://www.megaupload.com/?d=RNXNJPN3
Con Gái Chị Hằng
http://www.megaupload.com/?d=KF3SMV6C
Đời Cô Hạnh (1-->4)
http://www.megaupload.com/?d=E8F1FU93
http://www.megaupload.com/?d=2H3T6AKY
http://www.megaupload.com/?d=4BRN3NFJ
http://www.megaupload.com/?d=O86OTKUK
Kỷ Niệm Đời Con Gái (1-->4)
http://www.megaupload.com/?d=B4YYLTV5
http://www.megaupload.com/?d=J1FTXYZM
http://www.megaupload.com/?d=Y2P4XGM2
http://www.megaupload.com/?d=K23JLKCK
Xẽ còn tiếp mời pà con gẵng chờ...
nếu ai ủng hộ thì chịu khó reply topic này để nhắc nhở mình post tiép nhé vì bận quá sợ quên mất tiêu.
Bài viết được sưu tầm và do bạn Han có nick Hanparis post..
cám ơn rất nhiều
upload mấy bài tân cổ, hồi xưa đi admin