>>  Site Map >>  Forums >>  Hệ thống mạng Network

Forum module - topics in forum:



Hệ thống mạng Network - thảo luận về lắp đặt phát triển và bảo vệ mạng



[TUTOR] DSL Công nghệ đường dây thuê bao số.

Tài liệu được tổng hợp từ thầy đã dạy XB + lượm lặt của bạn bè và
trên web. Mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người.

Các bạn đọc tài liệu nếu thấy cao hay khó hiểu thì nên qua box này xem thêm nha: ADSL Internet băng thông rộng

Giới thiệu:

Đối với đa số người sử dụng internet, việc khám phá internet qua mạng đt chỉ dừng lại ở tốc độ truyền tải rất thấp, tối đa là 56kbps và tương lai chắc phải xảy ra sự nghẽn mạch thường xuyên khi số thuê bao internet tăng lên. Tốc độ truy xuất của thuê bao qua modem đã trở nên quá chậm chạp so với nhu cầu của khách hàng. Nhu cầu k đơn giản chỉ là gởi mail, chát … mà còn cả hình ảnh chất lượng cao + video và truyền file với dung lượng lớn.

Vào năm 1948, cha đẻ của ngành lý thuyết thông tin Claude Shannon đã đưa ra giới hạn dung lượng cho kênh truyền có nhiễu là 35 kbps và thực tế đã đạt được 33.6kbps. Hạn chế của kênh truyền đt với tốc tộ thông tin truyền số liệu k do đôi dây cáp đồng như người ta nghĩ mà là khi qua mạch mã hóa PCM (Pulse Code Modulation) dãy tần truyền dẫn chỉ cho qua các tín hiệu từ 300hz đến 400hz. Sau này Modem X2 của hãng US Robotics và modem của hãng Rockwell được thống nhất bởi tiêu chuẩn V90 của ITU-T (liên minh viễn thông quốc tế) nhằm mục đích lách khỏI mạch lọc này trong chiều từ ISP về đến ngườI sử dụng (downtream) đạt được tốc độ 56kbps nhưng tốc độ chiều từ người dùng lên ISP (uptream) vẫn là 33.6kbps và đây là tốc độ cao nhất có thể đạt được của modem. Không như đường T1: 1544kbps hay E1: 2048 kbps






Mạng viễn thông ngày nay được thiết kế vận hành đầu tư và bảo dưỡng chủ yếu dành cho dịch vụ thoại do đó đã bộc lộ nhược điểm là từ chỗ xử lý các cuộc gọI ĐT vốn chỉ kéo dài vài phút phải quá tải khi phải nhận cuộc gọi Internet kéo dài vài tiếng đồng hồ thậm chí còn hơn nữa.

GiảI pháp DSL là truyền tảI dữ liệu và thoại trên cùng một đường dây cáp đồng và khi đến tổng đài nộI hạt sẽ được tách ra bằng bộ tách dịch vụ. Tín hiệu thoại được chuyển qua tổng đài chuyển mạch, còn số liệu sẽ được đưa đến các ISP sẽ tránh được các mạch lọc PCM, tận dụng được dãy thông tần số của cáp đồng, tránh làm quá tải các hệ thống chuyển mạch của tổng đài điện thoại.

Sự ra đời đầu tiên của DSL như HDSL (high speed digital subscriber line) 1544 kbps trên 2 đôi dây, 2048 kbps trên 3 đôi dây dài đến 3,6 km. Kế đến là SDSL (single line digital subscriber line) trên một đôi dây với cùng tốc độ và cự ly tối đa là 3km. Tuy nhiên trong nhu cầu sử dụng của nhiều người chiều downtream bao giờ cũng lớn hơn nhiều so vớI chiều uptream, để đáp ứng nhu cầu của ngườI sử dụng ADSL đã ra đờI (Asymmetric digital subscriber line) đường dây thuê bao số bất đối xứng với tốc độ downtream lên đến 8 Mkbps (cự ly 2 km) và 6 Mkbps (cự ly 3,6km) hay VDSL (very hight bit rate DSL) đạt tốc độ downtream 13 Mkbps (cự ly 1,5km) 26 Mkbps (cự ly 1 km) và 52 Mkbps (cự ly 300m).






Hạn chế của mạng điện thoại thuê bao hiện nay:

Các cty khai thác điện thoại k đủ khả năng xử lý lưu lượng các cuộc gọi dữ liệu, đó là vì mạng đt được thiết kế để xử lý cuộc gọi hưng cuộc gọi số liệu thì rất dài. hệ quả là người sử dụng thường xuyên bị nghẽn mạch và k thực hiện được cuộc gọi. Một thuê bao internet nếu dùg nhiều thì có xu hướng muốn giữ chúng mà k chịu log of vì sợ k kết nối lại được gây lãng phí lớn cho người dùng và tài nguyên trên mạng.

DSL là công nghệ truy xuất dựa trên mạng nội hạt. Mạng truy xuất nội hạt bao gồm các vòng dây thuê bao nội hạt và các thiết bị liên quan nối từ vị trí người sử dụng tới tổng đài. Mạng truy xuất điển hình bao gồm các bó cáp mang hàng ngàn đôi cáp đến các tập điểm phối cáp. (FDI: Feeder Distribution Interface)

Nhiều thuê bao cách rất xa tổng đài nên có vòng thuê bao rất dài. Một vấn đề của vòng thuê bao dài là suy hao năng lượng của tín hiệu điện làm cho tín hiệu suy yếu đi, điều này tương tự như tín hiệu vô tuyến, càng cách xa máy phát tín hiệu thì càng kém.

Cáp quang có thể kết nối hiệu quả hàng ngàn thuê bao từ tổng đài này sang tổng đài khác nhưng lại quá đắt tiền. Vì vậy có thể dùng giải pháp dung hoà là kết thúc đường dây thuê bao tại các điểm trung gian gần với thuê bao hơn gọi là các DLC (Digital Loop Carrier: bộ cung cấp các vòng dây thuê bao số) những điểm trung gian này gọi là các thiết bị đầu cuối DLC phía khách hàng (RT: remote terminal)

Một trong những thuận lợi khi kết thúc đường dây thuê bao tại các thiết bị đầu cuối từ xa DLC là nó giảm được độ dài đường dây đồng của vòng thuê bao và cải thiện được độ tin cậy của dịch vụ. Một thuận lợi nữa là các dịch vụ đt thuần túy (POST: Plain Old Telephone Service) có thể được ghép lại thành luồng T1 hay E1 để truyền dẫn tới tổng đài nội hạt bằng cáp quang. Tuy nhiên mặc dù RT giải quyết được nhiều vấn đề của dịch vụ đt thuần túy nhưng nó lại tạo ra khá nhiều rắc rối khi triển khai cung cấp dịch vụ dựa trên cơ sở DSL.

DSL chỉ được cung cấp qua các đường dây cáp đồng liên tục nên khi một dịch vụ dựa trên DSL kết nối tới mộ RT thì cổng DSL phải kết thúc tại RT để tín hiệu DSL được biến đổi thành dạng tương thích với DLC . Mức độ sử dụng DLC thay đổi tùy cty đt và nó dao động từ k sử dụng haòng toàn cho tới mức sử dụng một khoảng 30% đường dây thuê bao trong mạng truy xuất nội hạt.

Dịch vụ đt thuần túy được thiết kế để truyền tải âm thoại cần dải tần đảm bảo trung thực để có thể cung cấp cho đt và truyền dẫn tín hiệu modem tương tự ở tốc độ từ 9.6 tới 33.6 kbps – 56kbps và sau này là ISDN.
Reply With Quote






ISDN (Integrared Service Digital Network): nguyên lý của ISDN là cung cấp dịch vụ thoại và dữ liệu trên cùng một đường dây thuê bao kỹ thuật số. Dùng ISDN để giao tiếp tốc độ cơ sở (BRI: basic rate interface) cho phép truyền dữ liệu và thoại trên 2 kênh B (binary channel) 64kbps và 1 kênh D (digital channel) 16kbps. Mỗi đường dây ISDN ở BRI có thể bố trí tối đa 8 thiết bị đầu cuối và cùng một lúc có thể thực hiện được nhiều cuộc gọi khác nhau. Dùng ISDN cho phép mọi người sử dụng các dịch vụ mới như dịch vụ khuẩn cấp, dịch vụ ghi số điện nước. Hơn nữa thiết bị ISDN được chuẩn hoá trên toàn cầu nên dễ thay thế, chuẩn loại phong phú, đặc biệt các thiết bị cũ của mạng đt PSTN vẫn dùng được với ISDN qua một bộ thích ứng đầu cuối TA (Terminal Adaptor). Chất lượng và độ tin cậy của đường dây ISDN chấp nhận được.

Nhưng ISDN vẫn k phải là dịch vụ tự động 128 kbps mà nó chỉ là 2 kênh 64 kbps. Nếu muốn sử dụng dung lượng đầy đủ 128 kbps của đường dây ISDN thì phải mua thêm một bộ thích ứng đầu cuối đặc biệt để nhập 2 kênh 64 kbps lại.

ISDN k phải là công nghệ có thể ứng dụng riêng cho từng thuê bao mà toàn bộ tổng đài phải được lắp đặt thiết bị ISDN với yêu cầu là tổng đài phải sử dụng kỹ thuật chuyển mạch số

Khái niệm cơ bản về DSL

Mạng PSTN, mạng thuê bao nội hạt của nó được thiết kế theo tiêu chuẩn giới hạn truyền dẫn kênh thoại tương tự 3400 hz . Ví dụ line đt, modem quay số, Fax đều được giới hạn truyền dẫn trên đường dây đt với phổ tần số từ 0 hz tới 3400 hz là 36 kbps.

Vậy làm thế nào mà công nghệ DSL có thể đạt được tốc độ thông tin hàng triệu bit mỗi giây trên cùng một đôi dây cáp đồng như vậy.

Đơn giản là loại bỏ giới hạn 3400 hz . DSL cũng như T1 và E1 trước đó sử dụng tần số rộng hơn kênh thoại. Có 3 vấn đề phát sinh khi loại bỏ giới hạn 3400 hz và việc tăng tốc độ thông tin trên đôi dây cáp đồng:

- Suy hao: là suy giảm năng lượng của tín hiệu truyền dẫn trên đường dây. Việc đi dây trong nhà cũng góp phần làm suy hao tín hiệu.
- Bridged tap: các đoạn dây kéo dài k có kết thúc của vòng dây thuê bao
- Xuyên kênh (crosstalk) : giữa 2 đôi dây trong 1 bó cáp gây ra mởi năng lượng điện mang theo trong mỗi đôi dây.

Suy hao và giới hạn khoản cánh suy hao:

Tần số truyền qua cáp kim loại suy hao nhanh hơn tín hiệu tần số thấp. Phương pháp để tối thiểu hoá suy hao là dùng dây trở kháng thấp. Dây cỡ lớn có trở kháng nhỏ hơn dây cỡ nhỏ nên làm suy hao tín hiệu ít hơn và tín hiệu có thể truyền được đến khoảng cánh lớn hơn như nếu sử dụng dây cỡ lớn sẽ làm tăng chi phí cho hệ thống. Vì vậy mà các cty đã thiết kế cáp nhỏ nhất có thể được.






Sơ qua về ReachDSL
ReachDSL là công nghệ DSL đối xứng đáp ứng nhu cầu của thuê bao về đường dây DSL tốc độ cao ở các khoảng cách xa. Để bổ sung cho công nghệ ADSL tiêu chuẩn DMT hay G.lite, các sản phẩm ReachDSL cung cấp tốc độ dữ liệu từ 128kbps đến 1Mbps và được thiết kế để làm việc với điều kiện đường dây và đi dây trong nhà dễ hơn.

Một trong các lợi ích của ReachDSL là k cần phải lắp đặt các bộ tách dịch vụ thoại đơn thuần POTS. Điều này cho phép khách hàng hoàn toàn có thể tự lắp đặt các bộ microfilter.

Khác với các hệ thống ADSL có độ dài vòng thuê bao giới hạn trong khoảng 6km kể từ tổng đài, các hệ thống ReachDSL mở rộng dịch vụ đến hơn 6500m và hiện nay đã có các đường dây vượt quá 10km.

ReachDSL có khả năng tương hợp phổ tần số, giải pháp ReachDSL có sự tương hợp tần số ở mức cao. Một trong các thành viên của gia đình ReachDSL là MVL (Multiple Virtual Line) là hệ thống DSL đầu tiên được FCC (Federal Communications Commission) công nhận.

ReachDSL có giá thành sản phẩm thấp, có tốc độ động và cho phép dịch vụ được định hướng khách hàng cho các ứng dụng khác nhau.

Đôi khi bạn cài đặt một phần mềm nào đó trực tuyến, bạn sẽ được hỏi là dùng gì để kết nối với server của họ. Có khi là Dial-Up, T1, E1, Cable modem, T3 hay cao hơn nữa. Vì thế cũng nên giới thiệu sơ qua về Cable Modem. Hiện nay thì ở Việt Nam chưa dùng loại này.

Cable Modem là thiết bị cho phép truy xuất thông tin tốc độ cao từ các Server từ xa như Internet Server hay Video on Demand Server qua truyền hình cáp (đồng trục). So với các loại modem analog truyền thống dùng trong mạng PSTN thì cable modem đạt tốc độ cao hơn nhiều và nhanh xấp xỉ 500 lần.

Cộng nghệ cable modem mang lại kết nối tốc độ cao cho môi trường dân dụng cũng như doanh nghiệp nhỏ qua các đường dây cáp đồng trục vốn sử dụng cho truyền hình cáp (xem hình vẽ) Modem cable còn là thiết bị cho phép truy xuất dữ liệu qua mạng truyền hình cáp thông thường. Thuê bao chỉ cần kết nối modem cable với ổ cắm truyền hình cáp. Phía nhà cung cấp dịch vụ sẽ kết nối đầu cáp với hệ thống xử lý modem cable (CMTS: Cable Modem Terminal System)
Reply With Quote




Dịch vụ dựa trên DSL và các thành phần của nó.

Dịch vụ dựa trên DSL và các thành phần của nó.
Hệ thống chuyển vận (transport system)

Thành phần này cung cấp giao tiếp truyền dẫn chính cho hệ thống DSLAM, thiết bị này có thể cung cấp các giao tiếp cụ thể như: T1/E1/T3/E3OC-1/OC-3 …

Mạng thuê bao nội hạt:

Tận dụng mạng thuê bao điện thoại làm cơ sở để cung cấp khả năng kết nối giữa các nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ cần phải lắp đặt thêm nhiều thiết bị như các hệ thống chuyển mạch frame relay, ATM và các bộ định tuyến. Các thiết bị chuyển mạch ATM đang ngày càng được sử dụng nhiều và các thế hệ DSLAM sắp tới sẽ bao gồm cả chuyển mạch ATM.
Ngoài ra còn có một vấn đề cần quan tâm đó là nút truy nhập (AN: Access Node) là nơi đặt các thiết bị chuyển mạch và định tuyến. Tùy thuộc vào qui mô của mạng thuê bao và giá thành liên quan đến việc chuyển vận mà có thể bố trí một hay nhiều AN trên mạng thuê bao nội hạt. Với các thế hệ DSLAM mới được tích hợp cả AN kết hợp luôn hệ thống chuyển mạch ATM.

DSLAM đa dịch vụ :

DSLAM được bố trí cạnh tổng đài nội hạt và là nền tảng của giải pháp DSL. Về mặt chức năng DSLAM tập hơp lưu lượng dữ liệu từ các vòng thuê bao DSL vào đường trục của mạng để kết nối với các phần còn lại của mạng. DSLAM cung cấp dịch vụ vận chuyển gói số liệu hay các ứng dụng chế độ mạch qua việc tập trung các đường dây DSL vào các ngõ ra 10Base-T, 100Base-T, T1/E1, T3/E3 hay ATM.

Hiện nay có một vài DSLAM đã được nhiệt đới hóa để có thể lắp đặt ở những vùng k có điều hòa nhiệt độ. Điều này cho phép lắp đặt các DSLAM tại các remote terminal hay các tủ đặt bên lề đường thay vì phải lắp đặt tại tổng đài nội hạt. Khả năng di chuyển DSLAM tới những vị trí xa tổng đài cho phép nhà cung cấp có thể cung cấp dịch vụ đến những nơi có khách hàng muốn sử dụng dịch vụ mà bình thường DSL k thể kéo tới được.

Ngoài chức năng tập trung thì tùy thuộc vào từng dịch vụ được cung cấp, một DSLAM có thể có thêm các chức năng khác như có thể có khả năng mở các gói số liệu để thực hiện một tác vụ nào đó...




Tiếp tục Dịch vụ dựa trên DSL và các thành phần của nó.

Tiếp tục Dịch vụ dựa trên DSL và các thành phần của nó.
Thiết bị kết thúc (endpoint) DSL MODEM/router là thiết bị đầu cuối phía người sử dụng dùng để kết nối người sử dụng dịch vụ với vòng thuê bao DSL. Kết nối kết thúc DSL thường là 10Base-T, V.35, ATM hay T1/E1. Các sản phẩm đời mới của người sử dụng cũng hỗ trợ các phương pháp giao tiếp internal khác như USB, IEEE 1394 hay PCI. Thêm vào đó thiết bị kết thúc DSL tại CPE (Customer Premises Equipment: thiết bị tài sản khách hàng) đang được phát triển với các cổng được thiết kế hỗ trợ cho từng ứng dụng riêng biệt như cổng RJ11 dành cho dịch vụ thoại, cổng video dành cho dịch vụ video dựa trên DSL và các giao tiếp mạng mới như Home PNA (Home Phoneline Networking Alliance) hay các giao tiếp mạng như Ethernet vô tuyến 802.11.

Các thiết bị kết thúc DSL của tài sản khách hàng có một số cấu hình khác nhau tùy thuộc vào dịch vụ cụ thể được cung cấp. Ngoài việc cung cấp chức năng cơ bản của một MODEM DSL nhiều thiết bị kết thúc còn có thêm một số chức năng như định tuyến, ghép kênh TDM hay ghép kênh ATM.

Các thiết bị DSL endpoint phải có các đặc tính sau:

- Phải hoàn toàn quản lý được từ phía các nhà cung cấp dịch vụ mà không cần cử nhân viên đến tận nơi.

- Hỗ trợ thực hiện giám sát trực tiếp để nhanh chóng dò sai hỏng, cách ly và thực hiện sửa chữa.

- Có khả năng tải từ xa các phần mềm nâng cấp

- Giao tiếp tốt với các thiết bị của hãng khai thác trung gian

- Có khả năng cung cấp thống kê quản lý lớp 1, lớp 2 như tỷ số SNR chẳng hạn

- Có khả năng cung cấp thống kê MIB lớp 3

Các thiết bị kết thúc định tuyến đem lại sự mềm dẻo cho IP từ vị trí khách hàng.

Với một thiết bị kết thúc IP-aware có thể tạo ra và duy trì được các mạng nội bộ, cho phép phân đoạn hiệu quả các LAN từ xa cũng như việc nhận dạng dòng dữ liệu downstream là multicast hay unicast. Vùng đa dịch vụ cũng có thể được các người sử dụng LAN từ xa tận dụng cùng lúc. Vùng đa dịch vụ trở nên quan trọng khi ta có một nhóm lớn các người sử dụng cần truy nhập các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau.




Bộ tách dịch vụ POTS và bộ lọc microfilter

Bộ tách dịch vụ POTS và bộ lọc microfilter
Các bộ tách dịch vụ (splitter) POTS được lắp thêm ở cả tổng đài nội hạt và phía người sử dụng dịch vụ cho phép sử dụng vòng thuê bao cáp đồng truyền dẫn đồng thời dữ liệu tốc độ cao và một kênh điện thoại khi dịch vụ dựa trên DSL đang sử dụng có hỗ trợ các dịch vụ này.

Các bộ tách dịch vụ POTS thường có 2 cấu hình: cấu hình đơn được thiết kế để lắp ở nhà riêng thuê bao và cấu hình nhiều dây được thiết kế để lắp đặt ở tổng đài nội hạt. Lưu ý rằng trong khi nhiều sơ đồ mã đường dây DSL hỗ trợ một kênh dịch vụ điện thoại đơn thuần POTS thì một số sơ đồ mã đường dây DSL khác lại không hỗ trợ loại dịch vụ này.

Bộ tách dịch vụ điện thoại đơn thuần POTS có thể là dạng tích cực hoặc dạng thụ động:

- Bộ tách dịch vụ điện thoại đơn thuần POTS thụ động không cần phải được cấp thêm nguồn điện bên ngoài. Bộ tách dịch vụ điện thoại đơn thuần POTS thụ động hỗ trợ các dịch vụ thường trực như số điện thoại khẩn cấp 911 (ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) ngay cả khi nguồn điện nhà đèn bị mất ở DSLAM hay MODEM DSL.

- Bộ tách dịch vụ điện thoại đơn thuần POTS tích cực phải được cấp nguồn từ bên ngoài cho điện thoại và tín hiệu DSL để hoạt động trên đôi dây cáp đồng. Khi mất điện thì muốn duy trì các dịch vụ thường trực phải có thêm nguồn điện dự phòng.

DSL ngày nay
Ngày nay, các loại DSL như G.dmt ADSL, G.lite, ReachDSL và RADSL có thể được lắp đặt mà không cần bộ tách dịch vụ điện thoại POTS riêng ở thiết bị tài sản khách hàng (CPE: Customer Premises Equipment). Thay vào đó là các thiết bị thụ động gọi là các bộ microfilter được người sử dụng gắn giữa mỗi thiết bị điện thoại đơn thuần (như máy điện thoại, máy điện thoại không dây, máy trả lời điện thoại, máy fax nhóm 3 hay MODEM tương tự) với đường dây. Mạch microfilter thực chất chỉ là một bộ lọc thông thấp cho phép tín hiệu dải tần âm thoại đi qua và loại bỏ tín hiệu trong dải tần DSL để loại trừ xuyên kênh. Ưu điểm của phương pháp này là trong khi các bộ tách dịch vụ POTS truyền thống được người lắp đặt của các công ty cung cấp dịch vụ lắp ở thiết bị giao tiếp mạng (NID: Network Interface Device) thì các bộ microfilter được người sử dụng tự gắn dễ dàng khỏi phải gọi cho công ty cung cấp đến lắp đặt. Với các loại dịch vụ dựa trên DSL thực hiện qua các kết nối điện thoại đơn thuần POTS thì đây là chọn lựa quan trọng nhất khi lắp đặt.




Các thế hệ DSLAM tương lai

Các thế hệ DSLAM tương lai
Các hệ thống DSLAM thế hệ thứ nhất và thứ hai căn bản là các hệ thống dịch vụ dữ liệu Internet thực hiện nhiệm vụ tập hợp nhiều kết nối DSL bằng cách sử dụng PPP (Point to point protocol: nghi thức điểm nối điểm) và các mạch ảo thường trực ATM để kết nối các người sử dụng với nhà cung cấp Internet. Phương pháp này tỏ ra thích hợp cho việc tập trung đơn giản các dịch vụ với nổ lực lớn nhất nhưng lại cồng kềnh và bất khả thi khi nhà cung cấp dịch vụ cố gắng đem lại cho khách hàng đa dịch vụ và nhiều mức chất lượng dịch vụ khác nhau. Khách hàng sử dụng DSLAM thế hệ thứ nhất về cơ bản bị giới hạn ở một mức chất lượng trên các kết nối PVC (Permanent Virtual Circuit).

Mô hình đa dịch vụ ngày nay được thiết kế để cung cấp cho khách hàng không chỉ các truy nhập Internet tốc độ cao mà còn cả các dịch vụ trong môi trường thương mại như FRoDSL, VPN và VoDSL vốn đòi hỏi một phương tiện bảo đảm chất lượng dịch vụ phức tạp hơn nhiều. Vậy, làm sao những bộ DSLAM thế hệ sắp tới có thể cung cấp các dịch vụ như vậy? Có nhiều cách để đạt được điều đó nhưng chúng đều có điểm giống nhau là tận dụng cơ chế chất lượng dịch vụ có sẵn trong ATM.
Thành phần quản lý mạng end to end
Một trong những phần tử thiết yếu nhất của một hệ thống DSL toàn diện là hệ thống quản lý mạng (NMS: Network Management System). Các ứng dụng thương mại đòi hỏi hỗ trợ quản lý mạng tin cậy và phải được đưa vào bất cứ kế hoạch dịch vụ dựa trên DSL nào.

Hệ thống DSL và các thành phần quản lý của nó phải được chia phần một cách an toàn để cho phép nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ ở dân dụng hay thương mại đều có thể quản lý được. Như vậy kích thước của một mạng DSL có thể biến đổi từ nhỏ cho đến rất lớn nên hệ thống quản lý cũng phải được điều chỉnh quy mô để thích ứng với những khác biệt này mà không mất mát chức năng quản lý.

Các hệ thống quản lý phải mềm dẻo và đủ sức mạnh để hỗ trợ đa dịch vụ. Các dịch vụ mới được DSL đưa ra như các dịch vụ true end-to-end frame relay, VoDSL và VPN đòi hỏi sự tuân thủ chặt chẽ các tham số quản lý chất lượng, đo đạc và giám sát những tham số này để bảo đảm theo đúng thoả thuận mức dịch vụ (SLA: Service Level Agreement). SLA là những thoả thuận giữa nhà cung cấp dịch vụ và thuê bao dịch vụ và thường bao gồm một vài loại bồi thường tài chính cho bất cứ một sự không tuân thủ nào. Hệ thống quản lý mạng sử dụng mô hình tiến xa hơn nhiều so với mô hình cơ bản, cho phép các nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng chọn, cung cấp dịch vụ, giám sát thực hiện và báo cáo mức độ thực hiện so với SLA.




Search from ALEXA


put your ads here